Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn viên
Kinh doanh
hongphuc_it2k2
0904.123.459
Kỹ thuật
hongphuc_it2k2
0243.775.11.79
Áp lực đè nặng lên ngành thép Việt Nam
Áp lực đè nặng lên ngành thép Việt Nam

Mặc dù chịu những vụ kiện liên tiếp, thuế chống bán phá giá áp đặt từ nước ngoài, cũng như sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường trong nước, ngành thép Việt Nam vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng hơn 20% trong năm nay.

Để đạt được mục tiêu, các doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, đa dạng hoá thị trường, và cải tiến kỹ thuật cho tăng trưởng và phát triển bền vững.

Áp lực lớn

Hiện nay, ngành công nghiệp thép phải đối mặt với nhiều vụ kiện thương mại quốc phòng. Dự kiến ​​số vụ kiện sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới khi chiến tranh thương mại Mỹ-Trung Quốc không có dấu hiệu sụt lún.

Đến cuối tháng 8 năm 2018, đã có 128 vụ kiện quốc phòng thương mại để bắt đầu điều tra về hàng xuất khẩu của Việt Nam. Trong số này, 85% các vụ kiện quốc phòng thương mại liên quan đến ngành thép.

Trong tháng qua, thép Việt Nam đã phải đối mặt với gần 10 vụ kiện thương mại quốc phòng từ bảy thị trường khác nhau.

Kết quả là, ngành công nghiệp thép đã trở thành ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các vụ kiện. Dự báo xuất khẩu sản phẩm thép sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian tới.

Tại thị trường trong nước, ngành thép của Việt Nam cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ thép nhập khẩu, đặc biệt là từ Trung Quốc.

Như ở Việt Nam, trong những năm gần đây, ngành thép của một số nước, trong đó có Trung Quốc, gặp nhiều vấn đề như nguồn cung dư thừa, tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận do chi phí lao động, quy định môi trường và thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt là kể từ khi chiến tranh thương mại Mỹ-Trung Quốc bắt đầu.

Trong xu hướng này, Trung Quốc đang tìm cách mang lại một lượng lớn dư lượng của mình cho các nước khác hoặc tích cực hỗ trợ các nhà sản xuất thép di dời các nhà máy ra nước ngoài.

Theo thống kê của Bộ Công Thương, sản lượng thép của Trung Quốc đã tăng hơn 12 lần trong 25 năm qua lên 803 triệu tấn, nhưng nhu cầu chỉ khoảng 672 triệu tấn.

Với 131 triệu tấn thép dư thừa, Trung Quốc đã trở thành đối thủ cạnh tranh chính của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), trong 9 tháng qua, sản lượng thép trong nước tăng trưởng tốt, đạt trên 17,6 triệu tấn, tăng 14,4% so với cùng kỳ.

Tiêu thụ thép đạt gần 16 triệu tấn, tăng 23,4% so với cùng kỳ, trong đó hơn 5 triệu tấn xuất khẩu, tăng 30,8% so với cùng kỳ.

Trong 8 tháng đầu năm 2018, lượng thép nhập khẩu của Việt Nam chỉ đạt 10 triệu tấn, giảm 16,5% so với cùng kỳ. Trong đó, nhập khẩu sản phẩm thép từ Trung Quốc đạt hơn 4,4 triệu tấn, giảm 16% so với cùng kỳ, nhưng vẫn chiếm 47% tổng lượng thép nhập khẩu.

Cải thiện khả năng cạnh tranh

Có thể thấy rằng việc xuất khẩu một lượng lớn thép của Trung Quốc sang Việt Nam không còn là một câu chuyện kỳ ​​lạ nữa.

Trong những năm trước, năng lực sản xuất thép của Việt Nam không đủ để đáp ứng nhu cầu, do đó, nhập khẩu từ Trung Quốc được coi là một yếu tố tích cực cho ngành công nghiệp sản xuất, xây dựng trong nước.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, mặc dù giảm nhập khẩu thép từ Trung Quốc, do sản xuất trong nước đáp ứng nhu cầu, nước này vẫn tiếp tục đẩy một phần thép dư thừa sang Việt Nam bằng mọi cách, từ chiết khấu sang chính sách hỗ trợ xuất khẩu.

Vì vậy, Việt Nam hiện đang ở trong nhóm các nước bị nghi ngờ là trung tâm của thép Trung Quốc với các nước khác để tránh thuế chống bán phá giá. Điều đó ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam.

Theo Phó chủ tịch của VSA Nguyễn Văn Sưa, sự nghi ngờ của các nước khác đối với thép của Trung Quốc dưới áo choàng thép của Việt Nam sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước trong xuất khẩu, đặc biệt là từ cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.

Trong khi đó, các công ty thép trong nước thực sự vẫn còn hạn chế về năng lực tài chính và công nghệ, dẫn đến chi phí nhiên liệu cao.

Đó là lý do tại sao các sản phẩm thép trong nước gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ.

Do đó, để đối phó với một lượng lớn thép Trung Quốc giá rẻ nhập khẩu vào Việt Nam và tránh các vụ kiện không cần thiết, nhà kinh tế Ngô Trí Long cho rằng các doanh nghiệp thép trong nước cần nâng cao sức cạnh tranh và chất lượng sản phẩm, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và biện pháp tự vệ nhiều như hiện tại.

Các công ty thép nên tối ưu hóa quy mô sản xuất với quy trình khép kín; nghiên cứu đầu tư thận trọng về các sản phẩm Việt Nam chưa được sản xuất có tiềm năng phát triển lớn.

Đồng thời, cần phải chủ động trong nguồn nguyên liệu, đa dạng hoá thị trường và cơ cấu sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm

Bài mới hơn
Bài cùng chuyên mục
© 2000-2016 VNTSC Vietnam. All rights reserved
Thiết kế bởi vntsc.vn